- Khi lịch sử được kể bằng vật liệu dân gian
Giữa dòng chảy đô thị hóa nhanh chóng của quận 8 cũ, Tổ đình An Phú vẫn lặng lẽ hiện diện như một không gian lưu giữ ký ức. Không giống nhiều ngôi chùa khác, lịch sử của chùa An Phú không chỉ được ghi lại trong tư liệu hay bia ký, mà còn được “kể” bằng những mảnh sành sứ vỡ, gắn chặt vào từng bức tường, cột trụ và mái chùa.
Ảnh: Không gian xung quanh chùa An Phú mang lại cảm giác yên bình.
. Khai sơn tạo tự – Câu chuyện bắt đầu từ năm 1847
– Bước ngoặc trùng hưng
Theo các tư liệu Phật giáo địa phương, chùa An Phú được khai sơn vào năm 1847, dưới triều vua Tự Đức. Khi ấy, vùng đất quận 8 ngày nay còn là khu vực hoang sơ, kênh rạch chằng chịt, đời sống cư dân gắn liền với việc khai khẩn và mưu sinh. Việc hình thành một ngôi chùa mang ý nghĩa đặc biệt: vừa đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, vừa là điểm tựa tinh thần cho cộng đồng cư dân mới.
Người có công khai sơn là Hòa thượng Thích Thanh Đức. Dưới sự dẫn dắt của ngài, chùa An Phú ban đầu có quy mô nhỏ, kiến trúc đơn giản, nhưng đã sớm trở thành nơi quy tụ Phật tử trong vùng.
Ảnh: Các mảnh sành, sứ từ ấm trà, đĩa, tô… được gắn khắp các mảng tường, cột, mái trong chùa An Phú.
Trong suốt chiều dài lịch sử hơn một thế kỷ, chùa đã chứng kiến nhiều thăng trầm. Đặc biệt, vào giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chùa từng xuống cấp trầm trọng và gần như bị bỏ hoang. Tuy nhiên, nhờ sự tận tâm của các thế hệ trụ trì, ngôi chùa đã được khôi phục và phát triển không ngừng.
Cột mốc quan trọng trong lịch sử chùa An Phú bắt đầu từ năm 1960, khi Hòa thượng Thích Từ Bạch – một cao Tăng thuộc dòng Lâm Tế Chánh tông đời thứ 41 tiếp quản ngôi chùa. Hòa thượng Thích Từ Bạch đã cống hiến cả cuộc đời mình để khôi phục và phát triển chùa.
Dưới sự dẫn dắt của Ngài, từ năm 1961 đến năm 1999, chùa An Phú được thiết kế lại toàn diện. Các công trình trong khuôn viên chùa được xây dựng và trang trí bằng miểng sành sứ – một đặc trưng độc đáo chưa từng có trong kiến trúc Phật giáo tại Việt Nam.
Sau khi Hòa thượng Thích Từ Bạch viên tịch, Hòa thượng Thích Hiển Đức đã tiếp tục công cuộc gìn giữ và phát triển chùa An Phú. Vào ngày 25/4/1998, Hòa thượng đã khởi công một đợt trùng tu lớn, kéo dài gần một năm và tổ chức lễ khánh thành vào ngày 01/4/1999. Lễ khánh thành có sự Chứng minh của Hòa thượng Thích Hiển Pháp – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Trong quá trình trùng tu, chùa còn nhận được sự hỗ trợ từ các chuyên gia như kiến trúc sư Nguyễn Văn Lụa và giáo sư Huỳnh Chánh Thiên, giúp đảm bảo các công trình vừa giữ được nét cổ kính truyền thống, vừa đảm bảo sự bền vững hiện đại.
Ảnh: Các mảnh sành, sứ được gắn kết khéo léo tạo thành những họa tiết hài hòa và sinh động trên khắp bề mặt ngôi chùa.
- Câu chuyện của những mảnh vỡ
- Chùa được làm từ mảnh sành sứ
Điểm đặc biệt nhất của chùa An Phú chính là toàn bộ công trình được trang trí bằng miểng sành sứ từ những chén bát, đĩa, ấm trà bị vỡ. Những mảnh sành sứ này được thu mua từ nhiều nơi và ghép lại thành những họa tiết mang ý nghĩa sâu sắc của Phật giáo như tượng Bồ Tát Di Lặc, tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, hoa văn hoa sen, biểu tượng chữ Vạn… Từ năm 1961 đến 2014, chùa đã sử dụng hơn 30 tấn sành sứ phế liệu và thực hiện trên diện tích 3.886 m² với khoảng 20.000 ngày công lao động.
Ảnh: Họa tiết trang trí được chạm khắc tỉ mỉ, thể hiện sự kỳ công và óc sáng tạo của người thợ.
Ảnh: Không gian chánh điện tầng trên các cột trang trí bằng các miểng sành.
Ảnh: Một chi tiết trang chí bằng sành trong Tổ đình An Phú.
Ảnh: Bông hoa sen bằng sành được họa tỉ mỉ.
Ảnh: Phật Di Lặc được tạo tác tỉ mĩ từ những miểng sành.
Việc sử dụng miểng sành sứ không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn hàm chứa triết lý sâu sắc. Trong Phật giáo, những mảnh sành vỡ tượng trưng cho sự tái sinh và đổi mới. Những gì tưởng chừng vô dụng đều có thể được tái tạo thành một tác phẩm nghệ thuật cũng như con người có thể vượt qua khó khăn, làm mới cuộc sống để đạt đến sự thanh thản và an lành.
Chùa An Phú là minh chứng cho sự sáng tạo không giới hạn, biến các vật liệu tưởng chừng như phế thải thành một kiệt tác mang tính nghệ thuật và tâm linh cao. Công trình này cũng thể hiện lòng kiên nhẫn và tâm huyết của chư Tăng Ni, Phật tử trong việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa.
- Kiến trúc cổ lầu
Kiến trúc cổ lầu là một trong những nét đặc trưng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của chùa An Phú. Cổ lầu thường được thiết kế với các tầng mái chồng lên nhau, thể hiện sự uy nghiêm, thanh thoát và gần gũi với thiên nhiên. Tại chùa An Phú, kiểu kiến trúc này được thể hiện qua các công trình chính như tam quan, chánh điện và các khu thờ phụng khác.
Ảnh: Họa tiết rồng trên mái chùa cũng được trang trí bằng miểng sành
Cổng tam quan của chùa được xây dựng theo phong cách cổ lầu truyền thống, gồm ba lối đi tượng trưng cho Tam Giới (Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới). Phía trên cổng là tượng Tam Thế Phật, đại diện cho ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai.
Toàn bộ cổng tam quan được trang trí bằng miểng sành, tạo nên những hoa văn, hình tượng Phật giáo đầy sinh động. Các họa tiết này không chỉ tăng tính thẩm mỹ mà còn thể hiện sự hòa hợp giữa nghệ thuật tâm tinh.
Chánh điện là trung tâm của chùa được xây dựng theo hình dạng một bảo tháp hình chữ nhật, tượng trưng cho núi Tu Di trong kinh Phật. Núi Tu Di được coi là trung tâm của vũ trụ, nơi hội tụ các tầng trời và địa ngục, thể hiện sự kết nối giữa thế giới vật chất và tâm linh.
Ảnh: Bốn pho tượng Phật Thích Ca lớn được bố trí quay về bốn hướng Đông, Tây, Nam và Bắc, hàm ý phổ độ chúng sinh khắp nơi. Sau lưng tượng là cây bồ đề xanh mát, tỏa bóng rộng lớn biểu trưng cho trí tuệ giác ngộ.
Với những giá trị kiến trúc, mỹ thuật và tâm linh đặc biệt, vào ngày 30/11/2007, chùa An Phú được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam (VietKings) công nhận là ngôi chùa sử dụng mảnh sành nhiều nhất Việt Nam. Đây không chỉ là một danh hiệu mà còn là sự ghi nhận cho công sức, lòng kiên trì và sự sáng tạo bền bỉ suốt nhiều thập niên của chư Tăng Ni và Phật tử.
Ảnh: Ngay cả bậc thang cũng được đính kết bằng hàng trăm mảnh sành sứ, tạo nên vẻ đẹp độc đáo và sinh động
- Kỷ lục độc đáo tại Tổ Đình An Phú
Vào ngày 30/11/2007, Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam (VietKings) chính thức công nhận chùa An Phú là ngôi chùa được tạo tác bằng miểng sành nhiều nhất Việt Nam. Điều này không chỉ đánh dấu sự sáng tạo vượt bậc trong kiến trúc mà còn là minh chứng cho sự lao động kiên nhẫn, tâm huyết của chư Tăng, Ni và Phật tử trong nhiều năm.
Chùa An Phú còn được biết đến với hai cặp nến lớn xác lập kỷ lục tại Việt Nam. Những cặp nến này không chỉ là vật phẩm cúng dường mà còn là tác phẩm nghệ thuật được chế tác công phu. Hai cặp nến khổng lồ đạt kỷ lục tại nước ta đang được giữ gìn cẩn thận bên trong chùa.
Cặp nến đầu tiên được chế tác bởi Hòa Thượng Thích Hiển Chơn – Phó trụ trì chùa An Phú. Cặp nến này có các đặc điểm ấn tượng:
– Trọng lượng: 1.800 kg mỗi cây.
– Chiều cao: 3,4 m.
– Họa tiết: Trên thân nến được chạm trổ hình rồng uốn lượn từ chân đến đỉnh, biểu tượng cho sự uy nghiêm và sức mạnh. Phần đế nến khắc hình Ngũ Long Chầu Đăng (năm con rồng chầu nến), tạo nên vẻ đẹp vừa thanh tao, vừa mạnh mẽ.
Ngày 02-02-2005, Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam chính thức công nhận cặp nến này là cặp nến cao và nặng nhất Việt Nam.
Không dừng lại ở thành công ban đầu, Thượng tọa Thích Hiển Chơn tiếp tục chế tác một cặp nến khác vào năm 2005, với kích thước vượt trội:
– Trọng lượng: 2.100 kg mỗi cây, nặng hơn cặp nến trước 300 kg.
– Chiều cao: 3,83m, cao hơn cặp nến trước 0,43 m.
– Họa tiết: Tương tự cặp nến đầu tiên, nhưng được chế tác tinh xảo hơn, mang vẻ đẹp uy nghi và sống động.
Ngày 02/01/2006, cặp nến thứ hai đã phá vỡ kỷ lục trước đó, được công nhận là cặp nến cao và nặng nhất Việt Nam. Hiện nay, cặp nến này vẫn được bảo quản cẩn thận tại chùa An Phú, trở thành một biểu tượng đặc sắc của ngôi chùa.
Ảnh: Cặp nến thứ hai được chế tác năm 2005 nặng 2.100 kg/cây, cao 3,83m.
Tổng luận
Ngày nay, chùa An Phú không chỉ là nơi lui tới của Phật tử quanh vùng mà còn là một điểm đến văn hóa, nghệ thuật được nhiều du khách trong và ngoài nước tìm đến. Giữa đô thị hóa không ngừng, sự tồn tại và phát triển của chùa là một minh chứng sống động cho việc gìn giữ di sản dân tộc.

Ảnh: Hòa Thượng trụ Trì niêm hương bạch Phật cho Khóa Tu Bát Quan Trai Giới hằng tháng.

Chùa An Phú quận 8 không chỉ là một ngôi chùa cổ kính với hơn 150 năm tuổi đời, mà còn là một công trình kiến trúc độc đáo, nêu lên giá trị văn hóa, tâm linh và lịch sử lâu đời. Với sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật ghép miểng sành, không gian thờ phụng trang nghiêm và các kỷ lục đáng nể, chùa An Phú thực sự là một điểm đến không thể bỏ qua khi ghé thăm TP. Hồ Chí Minh.
Chùa An Phú hay còn được gọi với tên dân dã là chùa miểng sành không chỉ đơn thuần là nơi gửi gắm tín ngưỡng Phật giáo, mà còn là biểu tượng của sự kiên trì, sáng tạo và tâm huyết. Từ những mảnh gốm vụn, con người có thể tạo nên một tuyệt tác bền vững với thời gian.
Lý Ngọc Huy – Sinh viên K22, ngành Tôn giáo học, khoa Công tác Xã hội – Nhân học – Xã hội học, trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG TP. HCM


