Thứ Tư, 21 Tháng 1 2026

ĐỒNG NAI: LỄ TRUY ĐIỆU VÀ CUNG THỈNH KIM QUAN CỐ NI TRƯỞNG THÍCH HUỆ NIỆM ĐẾN ĐÀI HỎA TÁNG HOA VIÊN SALA

Sáng ngày 21 tháng 02 năm 2025 (24 tháng giêng năm Ất Tỵ), tại Tuần Chính Thiền Tự, ban Tổ chức tang lễ trang nghiêm cử hành lễ truy điệu và đưa tiễn cố Ni trưởng Thích Huệ Niệm về đài hỏa táng Sala.Buổi lễ có sự tham dự của HT. Thích Minh Đáo – Chứng Minh tang lễ, HT. Thích Minh Tâm, HT. Thích Phước Chơn, HT. Thích Pháp Đăng – Sám Chủ, ĐĐ. Thích Đạt Ma Chí Hải – Trưởng Ban Tăng Sự, BTS GHPG huyện Long Thành, NT. Thích Như Dung – Phó Trưởng Phân Ban Ni Giới Trung Ương, Trưởng Phân Ban Ni Giới GHPG tỉnh Đồng Nai cùng chư Tôn đức giáo phẩm, chư Tăng Ni, đại diện các cấp chính quyền, môn đồ pháp quyến và đông đảo Phật tử. Tại buổi lễ, chư Tôn đức đã cử hành các nghi thức tâm linh theo truyền thống Phật giáo. Các bài điếu văn đã ôn lại cuộc đời và sự nghiệp tu hành của cố Ni trưởng, ca ngợi những đóng góp to lớn của Ni trưởng cho đạo pháp và dân tộc.Sau lễ truy điệu, môn đồ pháp quyến đã cung thỉnh kim quan cố Ni trưởng đến đài hỏa táng Sala để làm lễ trà tỳ. Sự ra đi của cố Ni trưởng Thích Huệ Niệm là một mất mát lớn cho Phật giáo tỉnh Đồng Nai nói chung và môn đồ pháp quyến nói riêng. Tuy nhiên, những công đức và hạnh nguyện của Ni trưởng sẽ mãi mãi được ghi nhớ và trân trọng. Vào tối trước đó, chư Tôn đức Tăng Ni và môn đồ pháp quyến thắp lên những ngọn đèn hoa đăng lung linh, tượng trưng cho ánh sáng của Phật pháp và lòng biết ơn đối với cố Ni trưởng. Đêm hoa đăng không chỉ là dịp để hàng Ni chúng tưởng nhớ về cuộc đời và sự nghiệp tu hành của cố Ni trưởng, mà còn là cơ hội để mỗi người tự nhìn lại bản thân, trau dồi đạo đức và tinh tấn tu học theo gương sáng của Ni trưởng.Ni trưởng Thích Như Dung đại diện môn đồ pháp quyến cung tuyên tiểu sử cố Ni trưởng. Cố Ni trưởng thế danh là Phan Thanh Nga, húy Nguyên Mỹ, pháp tự Huệ Niệm, pháp hiệu Diệu Âm. Người sinh ngày 1/1/1943 tại Huế trong một gia đình quan quyền. Cha Người là cụ ông Phan Thanh Cần làm Tri phủ phủ Hòa Đa, tỉnh Bình Thuận, là cháu của cụ Phan Thanh Giản – Một vị công thần triều Nguyễn. Mẹ Người là cụ bà Hứa thị Đào, là con gái một dòng dõi danh gia vọng tộc.Tuy được sinh ra trong một gia đình thuộc hàng thượng lưu trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ, nhưng Người sớm đã phải chịu cảnh vất vả gối đất nằm sương trong những lúc Tây ruồng, đôi khi lại phải nằm dưới hố bom nửa ngày mà không một chút sữa no lòng. Rồi bất hạnh lớn nhất của một con người đã đến khi chiến tranh lần lượt cướp mất cả song thân lúc Người mới vừa lên 3 tuổi. Hai anh trai lớn là Phan Thanh Dõng và Phan Thanh Thắng đã từ lâu đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, đứng trong hàng ngũ Việt Minh chiến đấu cho độc lập dân tộc, và đã lần lượt hy sinh trên các chiến trường Bình Định và Tuy Hòa năm 1947. Người anh lớn thứ ba – một vị chân tu – là Thượng Tọa Thích Bát Nhã – Trụ trì chùa Trùng Khánh thuộc tỉnh Ninh Thuận. Còn lại ba chị em gái mồ côi thì mỗi người lưu lạc một phương như hoàn cảnh ly tán của biết bao gia đình khác thời bấy giờ. Vì còn quá nhỏ, nên Người được hai chị gởi cho dì ruột là bà Hứa Thị Lê sống tại Đà Lạt nuôi dưỡng.Gia đình dì vốn đã đông đúc, nay phải cưu mang thêm một đứa trẻ lên ba. Nhưng với tấm lòng bao la như biển cả của một người mẹ, dì vẫn tảo tần hôm sớm để lo lắng đầy đủ cho đàn con thơ dại. Với tâm trạng cảm thông cho đứa trẻ sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, dì chăm sóc thương yêu cháu mình còn hơn cả con ruột của dì. Những năm khó khăn về sau này, con dì có người còn phải nghỉ học để phụ giúp mẹ làm bánh mứt nuôi cả gia đình, nhưng riêng cháu dì thì vẫn được ngày ngày cắp sách đến trường.Tuy sống trong cảnh êm ấm của gia đình dì, nhưng Người đã sớm tỏ rõ tư chất của người con Phật. Người trầm mặc, ít nói, hay ở chỗ riêng vắng một mình, ít tham gia vào những trò vui đùa giải trí của những trẻ cùng lứa tuổi. Bữa cơm hàng ngày Người thường cự tuyệt đối với các thức ăn thực nhục, quyển Kinh nhật tụng lại chính là quyển sách gối đầu giường và nhân vật Quan Âm trong truyện Tây Du luôn là hình ảnh mơ ước trong tâm trí Người trong suốt quãng đời thơ ấu.Vào một ngày đẹp trời năm 1956 lúc 13 tuổi, Người được cùng người vú nuôi lên vãn cảnh chùa Linh Phong ở Trại Hầm – Đà Lạt. Sau một hồi quanh quẩn dạo chơi, bà vú nuôi dẫn cô bé lơ thơ mái tóc ấy lên chánh điện chùa lễ Phật, chợt ngước trông lên tượng Đức Phật A Di Đà trang nghiêm thanh tịnh, Ngài lặng lẽ đứng đó tự bao giờ với đôi mắt đầy từ tâm và độ lượng.
Và trong lúc bà vú nuôi chuyện vãn cùng Sư Bà trụ trì, thì cô bé ấy với đôi mắt mở to theo dõi từng lời nói, cử chỉ của Sư Bà, trong ánh mắt cô hiện lên một tình cảm trong sáng kính tin với Sư Bà – Người mà mình mới lần đầu gặp mặt.Kể từ hôm đó, Người đã nhận chùa Linh Phong làm mái nhà thân thuộc của mình, mặc cho cảnh sống dưa muối tương rau đạm bạc của Thiền môn, Người vẫn hồn nhiên lớn dần theo năm tháng, và linh hoạt hẳn lên so với lúc còn ở trong gia đình, như rồng gặp mây, như cá gặp nước trong. Quyết định rời bỏ gia đình sống đời khất sĩ của Người được cả gia đình dì và thân bằng quyến thuộc nội ngoại tiếp nhận như một sự kiện trọng đại, gây xấu hổ cho cả một dòng họ danh gia Sau khi bất lực trước sự cương quyết của Người đối với các biện pháp dụ dỗ, ngăn cấm, răn đe, gia đình đã lừa bắt cóc Người trở về nhà chỉ vài tháng sau khi Người được Sư Bà cho phủi tóc xuất gia. Nhưng mặc cho tất cả các chướng duyên ngăn trở, là một cổ xe tốt ắt phải lăn bánh trên con đường quang rạng, Người vẫn quay về với lớp áo nâu sồng thanh cao trong sạch.

Năm 1958, Người được Sư Bà truyền giới Sa di ni. Đến năm 1960, Người tiếp tục được thọ giới Thức xoa ma na. Người lớn dần lên với “ bát cơm ngàn nhà “, với nề nếp  quy củ của mái chùa Linh Phong, với lòng từ bi vô lượng của Sư Trưởng, nội điển, ngoại điển song hành trưởng dưỡng nội tâm. Người  luôn nỗ lực trong sự tu hành và thường tham khảo nhiều pháp môn trong cánh rừng mênh mông của Phật pháp. Rồi thời điểm đã đến khi Đại Giới Đàn do Hòa Thượng thượng Thọ hạ Giả tổ chức tại chùa Hoa Nghiêm – thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ vào năm 1964, Người là một giới tử thọ Tỳ Kheo Ni giới. Nhân duyên thù thắng đưa đẩy Người gặp được Hòa Thượng thượng Thánh hạ Nhất – một Thiền sư Trung Hoa – đệ tử của Hư Vân lão Hòa Thượng.Pháp thiền của tông Lâm Tế – Tào Động được truyền trao cho Người sau đó. Hòa Thượng còn tự tay rạch vào lưỡi mình để lấy máu viết một phẩm kinh Bát Nhã và bài kệ:

“ Nguyện hoạch trí huệ như hải

Nguyện đắc biện tài vô ngại

Nguyện quán nhất thiết không tướng

Phương đắc danh Quán Tự Tại “

trao cho Người để làm tín vật. Pháp hiệu Diệu Âm được Hòa Thượng đặt cho Người kể từ lúc ấy. Cuộc đời tu hành của Người  bắt đầu chuyển sang một bước ngoặt mới.Năm 1986, duyên lành hội tụ, đất Long Thành đã đón nhận bước vân du của Người bằng không ít khó khăn gian khổ, mảnh đất khô cằn sạn sỏi, cỏ tranh cỏ đế cao bằng đầu người, mảnh đất mà biết bao người có đầy đủ tài lực, vật lực đã phải lắc đầu ngao ngán bỏ ra đi, như một thách thức đối với Người. Thế nhưng, tuy là hàng nữ nhi nhược chất, nhưng ý chí là của bậc trượng phu, Người đã khai sinh ra cảnh giới Tuần Chính Thiền Tự, biến dần nơi đồng hoang cỏ cháy thành chốn lan nhã thanh u, cảnh trí thiên nhiên đơn sơ mộc mạc, ánh trăng vằng vặc soi tỏ cảnh vật những lúc đêm về, tất cả đều hòa quyện lại tạo cho con người một tâm hồn thanh thoát, phiền não dẫu có dấy khởi trong một vài phút giây cũng dễ dàng tan biến vào không gian mênh mông.Cảnh giới thể hiện tâm hồn của người tạo dựng. “ Kính hoa Phật sự, thủy nguyệt đạo tràng “ là tôn chỉ trên bước đường hành Đạo của Người, từ việc dạy dỗ Ni chúng tu học cho đến việc giáo hóa hàng Phật tử cùng các việc làm từ thiện Người đều hết lòng tận tụy, nhưng không hề trụ chấp. Người sống rất chan hòa từ ái với tất cả mọi người, ai đã có một lần tiếp xúc với Người đều mang một tâm trạng yêu mến và quý kính không quên. Trong đời sống thường nhật, Người sống rất đạm bạc đơn sơ, trượng thất của Người có rất ít những tiện nghi của thời đại.Chánh niệm hiện tiền và tâm lượng từ bi của Người tỏa sáng nơi oai nghi đức tướng, nơi giọng nói từ hòa nhưng đầy uy đức. Dù thường bị thân bệnh chi phối, nhưng Người không hề sơ thất oai nghi, ngay cả trong lúc bệnh cũng như trong lúc khỏe, ở chốn đông người hay ở nơi vắng vẻ. Những ai đến với Người bằng nội tâm khúc mắc, Người đều đem tất cả trí lực, tâm lực, từ lực để dần dần chuyển hóa, khai ngộ. Dòng sữa từ bi ấy không chỉ hàng đệ tử ni chúng được thấm nhuần mà nó còn lan tỏa trong khắp hàng Phật tử tại gia.Người được tấn phong Ni Trưởng vào năm 2007, và giữ chức vụ Cố vấn Phân ban Ni giới nhiệm kỳ VI và nhiệm kỳ VII từ năm 2007 đến năm 2017. Người là Thiền chủ cho Trường hạ Ni do ban Trị Sự GHPGVN huyện Long Thành tổ chức đặt trụ xứ an cư  tại Tuần Chính Thiền Tự vào năm 2010 và 2013.

Vào năm 2023, trong buổi Lễ “ Về Nguồn”, Người đã nhận con TKN Như Dung – Trụ Trì chùa Long Vân làm đệ tử y chỉ với PD. Chơn Đức, NS. Thích Thánh Hiểu là Trưởng Ban Kinh tế Tài Chánh BTS. GHPGVN huyện Long Thành làm đệ tử y chỉ với PD. Chơn Hiếu, NS. Thích Chúc Thành, SC. Thích Chúc Từ- Tu Viện Trạm Viên làm đệ tử y chỉ với PD. Chơn Thành và Chơn Từ.Bằng dự cảm của một bậc chân tu, Người biết thời khắc ra đi sắp đến, vào cuối năm 2024, Người đã họp chúng đệ tử xuất gia tại Bổn tự và Thầy trò đã cùng nhau thống nhất ý kiến giao trách nhiệm Trụ Trì kế thế  cho con là TKN Như Dung là đệ tử y chỉ PD. Chơn Đức thay Người quản lý Tuần Chính Thiền Tự với sự cộng tác của ba vị đệ tử thường trụ là NS. Thích Chơn Không, SC. Thích Chơn Nguyên, SC. Thích Chơn Hiền, phật tử thị giả Quảng Tuệ.Thế rồi luật vô thường đã đến, ngày 19 tháng giêng năm Ất Tỵ Người thanh thản ra đi sau một cơn bệnh nhẹ, để lại cho ni chúng và hàng Phật tử tại gia một niềm kính tiếc không nguôi.

Cuộc đời tu học và hành đạo của Người trong 61 năm, với 83 tuổi đời  là một tấm gương tỏa sáng. Tuy Người đã ra đi, nhưng dáng dấp nhẹ nhàng thanh thoát và đầy uy đức của Người luôn sống mãi trong lòng Ni chúng và hàng Phật tử tại gia tại Tuần Chính Thiền Tự

“ Tiếng chuông chùa Tuần Chính

Gióng lên hồi bái biệt

Khép lại rồi vĩnh cửu

Đưa tiễn bậc Thầy đi”.

Hình ảnh tại buổi lễ:

Ban TT – TT chùa Long Vân

Tin đã đăng